Các khái niệm trong Học máy (Machine Learning) (2) – Xác suất, công thức Bayes
Đăng bởi tqlong on Tháng Bảy 26, 2008
Định nghĩa (- đại số): Cho tập
, tập
gọi là
- đại số của
nếu
- Các phần tử của
là các tập con của
- Tập
khác rỗng:
- Tập
đóng với phép hợp:
.
- Tập
đóng với phép bù:
Ví dụ:
- Từ các tính chất, ta thấy
- đại số luôn chứa tập rỗng
và tập vũ trụ
(vì
).
- Nếu
thì
,
,
là các
- đại số trên
.
Định nghĩa (độ đo): Cho và
là
- đại số trên
. Hàm
gọi là độ đo trên
nếu
- Nếu
và không giao nhau từng đôi một (
) thì
Ta nói bộ là không gian đo được.
Định nghĩa (không gian mẫu, biến cố, xác suất):
Không gian mẫu: Một tập khác rỗng gọi là không gian mẫu nếu các phần tử của nó có thể là kết quả của một phép thực nghiệm ngẫu nhiên.
Ví dụ:
- Có một hộp có gồm 10 viên bi bên trong, nhắm mắt lại chọn ngẫu nhiên 1 viên bi. Như vậy mỗi viên bi đều có thể là kết quả của phép thực nghiệm này, không gian mẫu là
là số hiệu cuả từng viên bi.
- Có 3 người, chọn ngẫu nhiên 1 người và hỏi người này có thích màu đỏ không? Không gian mẫu là
. Nếu hỏi cả 3 người xem họ có thích màu đỏ không, lúc này không gian mẫu lại là
, trong đó
là thích,
là không thích.
Biến cố: Một - đại số
của không gian mẫu
gọi là tập các biến cố trên
. Mỗi tập
gọi là một biến cố. Khi thực nghiệm ngẫu nhiên cho kết quả
thì với các biến cố
mà
, ta nói biến cố
đã xảy ra.
Ví dụ:
- Xét hòm bi có 3 viên bi,
và tập biến cố
. Nếu ta nhấc được hòn bi số
thì các biến cố
đã xảy ra, còn các biến cố
không xảy ra.
- Nếu hỏi cả 3 người xem họ có thích màu đỏ không, không gian mẫu là
. Biến cố “có đúng 2 người thích màu đỏ là”
, biến cố “có ít nhất 1 người không thích màu đỏ” là
.
Xác suất: Xét một thực nghiệm ngẫu nhiên với không gian mẫu và tập các biến cố
, ta nói độ đo
trên
là độ đo xác suất nếu
(có thể suy ra
).
Ví dụ:
- Như vậy, xác suất theo định nghĩa trên chỉ đơn giản là một hàm (độ đo) trên tập các biến cố. Giá trị của hàm này trên từng biến cố có thể xác định bằng thực nghiệm hoặc qua chủ quan của chính ta. Ví dụ, nếu ta tung đồng xu 1000 lần, trong đó 495 lần được mặt ngửa, 505 lần được mặt sấp, ta hoàn toàn có thể gán
. Tuy nhiên, “kinh nghiệm” bảo ta rằng, xác suất tung đồng xu ra hai mặt sấp ngửa nên bằng nhau thì “hợp lý” hơn và ta có thể “áp đặt” xác suất của các biến cố này như sau:
. Sau đây ta sẽ thấy, việc áp đặt giá trị xác suất ban đầu không ảnh hưởng lắm đến giá trị xác suất “thực sự”, ta có thể sử dụng công thức Bayes để tính lại các giá trị xác suất này sau khi quan sát được các kết quả thực nghiệm.
- Để cho tiện, khi nói đến một thực nghiệm ngẫu nhiên, người ta ngầm hiểu là có một không gian mẫu
, một tập các biến cố
và một độ đo xác suất
trên
.
Một số công thức xác suất:
Công thức cộng:
Người ta thường viết tắt
Công thức DeMorgan:
Xác suất điều kiện: Xác suất xảy ra biến cố khi biến cố
đã xảy ra là
Nhận xét:
- Xác xuất xảy ra biến cố
khi biến cố
đã xảy ra là
do
.
- Có thể hiểu xác suất có điều kiện khi đã biết biến cố
xảy ra là xác suất được định nghĩa trên không gian mẫu mới
, tập các biến cố
. Vì thế, khi đã biết biến cố
, có thể kiểm tra được xác suất có điều kiện thỏa mãn mọi điều kiện của một độ đo xác suất bình thường.
Độc lập xác suất: Hai biến cố độc lập với nhau nếu
.
Nhận xét:
nên
độc lập với nhau.
- Vì
nên nếu
ta có
. Nghĩa là biến cố
đã xảy ra hay không không làm ảnh hưởng đến xác suất của biến cố
.
Công thức Bayes: Cho biến cố và các biến cố
sao cho
- Các tập
rời nhau từng đôi một
thì ta có công thức xác suất tổng
và công thức Bayes
Chứng minh: Rõ ràng
Do rời nhau từng đôi một nên
cũng rời nhau từng đôi một. Do
là độ đo nên
Ví dụ:
- Giả sử trong một cộng đồng dân cư có một loại bệnh
. Tỉ lệ số người mắc bệnh
là
. Để chẩn đoán bệnh này, người ta dùng xét nghiệm
. Tuy nhiên, xét nghiệm
không chính xác tuyệt đối, tỉ lệ chẩn đoán đúng với người có bệnh (true positive) là
, trong khi đó, tỉ lệ chuẩn đoán sai với người không có bệnh (false positive) là
. Giả sử một người được chuẩn đoán là có bệnh, hỏi xác suất để người này thực sự có bệnh là bao nhiêu?
Giải: Gọilà biến cố “có bệnh”,
là biến cố “không có bệnh”,
là biến cố “chẩn đoán có bệnh”. Như vậy các biến cố
thỏa mãn điều kiện của công thức cộng xác suất và công thức Bayes.
Như vậy, khi bị chẩn đoán có bệnh, người này có khả năng bị bệnh cao hơn tỉ lệ bình thường (
), nhưng cũng chưa thể chắc chắn là người này bị bệnh, lí do là có thể chẩn đoán sai. Ví dụ này cũng cho thấy công thức Bayes cho phép chỉnh sửa lại xác suất khi quan sát được kết quả thực nghiệm.
- Giả sử sau khi bị chẩn đoán có bệnh, người này tiếp tục đi chẩn đoán lần thứ 2, xác suất để chẩn đoán lần này cũng có bệnh là bao nhiêu?
Giải: Gọilà biến cố “tiếp tục bị chẩn đoán có bệnh. Ta cần tính xác suất
. Để tính công thức xác suất tổng
ta phải giả sử 2 lần xét nghiệm hoàn toàn độc lập với nhau, bất kể người đó có bệnh hay không, khi đó
Thế vào công thức trên ta được
. Nghĩa là xác suất chẩn đoán có bệnh tăng lên rất nhiều so với lần chẩn đoán đầu tiên (
).
- Xác suất người này có bệnh sau khi cả hai lần chẩn đoán đều có bệnh là
Tức là gần như chắc chắn người này có bệnh sau khi 2 lần chẩn đoán đều cho kết quả dương tính (positive).



